SinhVienCNTT.Net
Thứ Sáu, Tháng 4 3, 2026
  • Login
No Result
View All Result
  • Trang chủ
  • Bài viết nổi bật
  • Security
    • Kỹ thuật phân tích mã độc
    • CEH v13
  • Các môn học đại học
    • Các môn đại cương
      • Nhập môn mạng máy tính
      • Nhập môn lập trình
      • Hệ điều hành
    • Ngành An toàn thông tin
      • Lập trình hệ thống
    • Ngành Mạng máy tính & Truyền thông dữ liệu
  • Tài liệu CNTT
  • Liên hệ
Gửi email
  • Trang chủ
  • Bài viết nổi bật
  • Security
    • Kỹ thuật phân tích mã độc
    • CEH v13
  • Các môn học đại học
    • Các môn đại cương
      • Nhập môn mạng máy tính
      • Nhập môn lập trình
      • Hệ điều hành
    • Ngành An toàn thông tin
      • Lập trình hệ thống
    • Ngành Mạng máy tính & Truyền thông dữ liệu
  • Tài liệu CNTT
  • Liên hệ
No Result
View All Result
SinhVienCNTT.Net
No Result
View All Result
Home Các môn học đại học

Sự phân tầng giao thức và mô hình TCP/IP

Nhà ngoại cảm by Nhà ngoại cảm
14 Tháng 10, 2024
in Các môn học đại học
Reading Time: 18 mins read
0
Sự phân tầng giao thức và mô hình TCP/IP
Bài viết này là phần 9/20 thuộc series Nhập môn mạng máy tính
  • Phần 1: Slide Nhập môn mạng máy tính (Tiếng Anh)
  • Phần 2: Tổng quan về Internet và các thành phần của Internet
  • Phần 3: Dịch vụ của Internet, API và giao thức của Internet
  • Phần 4: Các thành phần mạng biên của Internet
  • Phần 5: [Version mới nhất] Sách Computer Networking: A Top-Down Approach 8th Edition
  • Phần 9: Sự phân tầng giao thức và mô hình TCP/IP
  • Phần 6: Các phương tiện truyền dẫn của Internet
  • Phần 7: Các thành phần mạng lõi của Internet
  • Phần 8: Trễ gói tin, mất gói tin và thông lượng mạng chuyển mạch gói
  • Phần 10: Mô hình OSI là gì?

Ở bài trước chúng ta đã đi qua các khái niệm về độ trễ gói tin, mất gói tin và thông lượng trong mạng chuyển mạch gói. Để tiếp tục Series Nhập môn mạng máy tính, chúng ta sẽ tìm hiểu về sự phân tầng giao thức và các ứng dụng của chúng.

Từ những phần trước, rõ ràng là Internet là một hệ thống cực kỳ phức tạp. Chúng ta đã thấy rằng Internet có nhiều thành phần: nhiều ứng dụng và các giao thức, nhiều loại hệ cuối, các bộ chuyển gói tin và nhiều loại đường truyền. Với thực trạng phức tạp như vậy, liệu có thể tổ chức các thành phần mạng thành một kiến trúc mạng được không. Câu trả lời là có thể.

Mục lục ẩn
1. Kiến trúc phân tầng
1.1. Sự phân tầng giao thức
1.1.1. Tầng ứng dụng
1.1.2. Tầng vận chuyển
1.1.3. Tầng mạng
1.1.4. Tầng liên kết
1.1.5. Tầng vật lý
1.1.6. Thông điệp, phân đoạn, gam dữ liệu và khung dữ liệu
2. Tổng kết

Kiến trúc phân tầng

Trước khi nói về kiến trúc của Internet, hãy xem một ví dụ tương tự trong cuộc sống. Thật ra thì chúng ta vẫn thường gặp nhiều hệ thống phức tạp hàng ngày. Hãy tưởng tượng rằng có ai đó yêu cầu bạn mô tả lại hệ thống vận chuyển hàng không. Làm thế nào để tìm ra cấu trúc mô tả cho hệ thống phức tạp này, trong đó có đại lý bán vé, bộ phận kiểm tra hành lý, gác cổng, phi công, máy bay, kiểm soát không lưu, và hệ thống dẫn đường máy bay trên toàn cầu.

Một cách để mô tả hệ thống này là mô tả một chuỗi những hành động mà bạn gặp (hoặc những người khác gặp kể lại cho bạn) khi bạn bay trên một chuyến bay. Bạn mua vé, kiểm tra hành lý, đến cổng ra máy bay, và thậm chí là được chở ra máy bay. Máy bay cất cánh và được hướng dẫn bay đến nơi. Sau khi máy bay hạ cánh, bạn rời khỏi máy bay và yêu cầu hành lý. Nếu chuyến bay phục vụ không tốt, bạn có thể phản ánh với đại lý vé.

cac hanh dong trong di chuyen bang may bay
Các hành động trong di chuyển bằng máy bay

Giờ đây bạn có thể xem sự tương tự trong mạng máy tính. Bạn được chuyển đi từ nơi khởi hành đến đích đến; thì một gói tin cũng được chuyển di từ thiết bị đầu cuối nguồn đến thiết bị đầu cuối đích trên Internet.

Nhưng điều cũng không hoàn toàn tương tự như chúng ta thấy sau đây. Chúng ta đang tìm kiếm một cấu trúc trong hình trên. Chúng ta chú ý rằng có một chức năng liên quan đến vé ở mỗi phía; cũng có những chức năng liên quan đến hành lý đối với những hành khách đã mua vé, và một chức năng liên quan đên cổng đối với những hành khách đã mua vé và đã kiểm tra hành lý.

Với các khách đã qua cổng kiểm tra (là những hành khách đã có vé, đã soát hành lý và đã qua cổng kiểm tra), có một chức năng liên quan đến cất cánh và hạ cánh, và trong khi đang bay, có một chức năng hướng dẫn bay. Điều này gợi ý rằng chúng ta có thể coi các chức năng trong hình trên theo lối cắt ngang, như được minh họa ở hình sau đây:

Sự phân tầng giao thức và mô hình TCP/IP 3
Chia các chức năng vận chuyển hàng không thành các tầng

Hình trên chia các chức năng trong vận chuyển hàng không thành các tầng (layers), nhằm cung cấp một bộ khung mà dựa vào đó chúng ta có thể thảo luận về vận chuyển hàng không. Mỗi tầng cung cấp dịch vụ của nó bằng cách thực hiện các hành động nhất định tại tầng đó (ví dụ, ở tầng liên quan đến cổng, thực hiện đưa người lên và xuống máy bay) và sử dụng trực tiếp dịch vụ của tầng ngay dưới nó.

Ví dụ: Ở tầng liên quan đến cổng, sử dụng dịch vụ vận chuyển hành khách ra/vào đường băng của tầng cất cánh/hạ cánh.

Kiến trúc phân tầng cho phép chúng ta thảo luận về các thành phần cụ thể của một hệ thống lớn và phức tạp. Sự đơn giản hóa này do tính mô-đun mang lại, làm cho việc thay đổi cài đặt dịch vụ ở một tầng trở nên dễ dàng hơn. Miễn là một tầng còn cung cấp cùng một dịch vụ cho các tầng nằm trên nó, và sử dụng cùng các dịch vụ của tầng bên dưới nó, phần còn lại của hệ thống vẫn không bị ảnh hưởng khi cài đặt của tầng đó bị thay đổi

Lưu ý là việc thay đổi cài đặt của một dịch vụ thì hoàn toàn khác với việc thay đổi bản thân dịch vụ.

Với những hệ thông lớn và phức tạp vốn thường được chỉnh sửa thường xuyên, khả năng thay đổi cài đặt của một dịch vụ mà không làm ảnh hưởng đên các thành phần khác của hệ thống là một sự thuận lợi quan trọng khác của việc phân tầng.

Sự phân tầng giao thức

Bây giờ hãy xem xét các giao thức mạng. Nhằm cung cấp một cấu trúc để thiết kế các giao thức mạng, các nhà thiết kế mạng tố chức các giao thức – và các thành phần phần cứng, phần mềm cài đặt cho giao thức – thành các tầng (layers). Mỗi giao thức thuộc về một trong các tầng, cũng như mỗi chức năng trong kiến trúc hàng không ở hình trên thuộc về một tầng.

Một lần nữa chúng ta quan tâm đến các dịch vụ mà một tầng cung cấp cho các tầng phía trên nó – cái được gọi là mô hình dịch vụ. Cũng như trường hợp ví dụ về hệ thống hàng không, Mỗi tầng cung cấp dịch vụ của nó bằng cách thực hiện các hành động nhất định tại tầng đó và sử dụng trực tiếp dịch vụ của tầng ngay dưới nó.

Lấy ví dụ, các dịch vụ do tầng n cung cấp có thể có dịch vụ chuyển giao các thông điệp một cách đáng tin cậy từ một nút đến một nút khác. Dịch vụ này có thể được cài đặt bằng cách sử dụng dịch vụ chuyển giao thông điệp không tin cậy ở tầng n-1, và cộng thêm với chức năng bổ sung ở tầng n nhằm phát hiện và truyền lại các thông điệp bị mất.

Một tầng giao thức có thể được cài đặt chỉ phần mềm, phần cứng hoặc tổ hợp cả hai. Các giao thức tầng ứng dụng (application layer) – như HTTP và STMP – hầu như luôn luôn được cài đặt trong phần mềm trong các thiết bị đầu cuối; cũng như vậy với các giao thức tầng vận chuyển (transport layer)

Tầng vật lý (physical layer) và tầng liên kết dữ liệu (data link layer) chịu trách nhiệm xử lý việc truyền thông qua một đường truyền nhất định, chúng thường được cài đặt ở card mạng (network interface card – NIC) (chẳng hạn như card giao tiếp Ethernet hoặc WiFi) gắn với một đường truyền nhất định. Tầng mạng thường là sự trộn lẫn giữa phần cứng và phần mềm.

Việc phân tầng giao thức có những thuận lợi về khía cạnh cấu trúc và quan niêm. Khả năng mô-đun hóa làm cho việc cập nhật các thành phần của hệ thống trở nên dễ dàng hơn. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu và kỹ sư mạng quan niệm rất khác nhau về việc phân tầng. Một trong những nhược điểm tiềm tàng của phân tầng là một tầng có thể có trùng lặp chức năng của một tầng thấp hơn.

Ví dụ, nhiều chồng giao thức (xem đoạn dưới) cung cấp dịch vụ sửa lỗi ở cả hai mức: mức đường truyền và mức truyền thông giữa hai đầu cuối. Một nhược điểm tiềm tàng thứ hai là chức năng ở một tầng có thể cần thông tin (chẳng hạn giá trị timestamp) vốn chỉ có ở tầng khác; điều này vi phạm mục đích phân tầng.

Khi ráp lại cùng nhau, các giao thức của các tầng được gọi là chồng giao thức (protocol stack). Chồng giao thức Internet hay còn gọi là Mô hình TCP/IP gồm có năm tầng: tầng Vật lý (physical), tầng Liên kết (link), tầng Mạng (network), tầng Vận chuyển (transport), và tầng ứng dụng (application), như được minh họa ở hình dưới đây (một số người khác cho rằng mô hình này gồm 4 tầng):

su phan tang giao thuc - chong giao thuc internet mo hinh tcp/ip
Chồng giao thức Internet – Mô hình TCP/IP

Tầng ứng dụng

Tầng ứng dụng của Internet có nhiều giao thức, chẳng hạn giao thức HTTP (giao thức cung cấp dịch vụ yêu cầu và đáp ứng các trang Web), SMTP (giao thức cung cấp dịch vụ vận chuyển các thông điệp thư điện tử), và FTP (giao thức cung cấp dịch vụ truyền tập tin giữa hai thiết bị đầu cuối).

Một giao thức ở tầng ứng dụng được phân bố trên nhiều thiết bị đầu cuối, trong đó ứng dụng trong một thiết bị đầu cuối sử dụng giao thức để trao đổi thông tin với các ứng dụng ở thiết bị đầu cuối khác. Gói thông tin ở tầng ứng dụng được gọi là thông điệp (message)

Tầng vận chuyển

Tầng Vận chuyển của Internet chỉ hoạt động ở tại nút gửi/nhận, không hoạt động ở các nút trung gian trên đường truyền. Trong Internet, hai giao thức vận chuyển chính yếu là TCP và UDP.

TCP cung cấp một dịch vụ hướng kết nối (connection-oriented). Dịch vụ này bao gồm khả năng truyền có bảo đảm các thông điệp, và kiểm soát lưu lượng (flow control) (giới hạn tốc độ truyền tối đa của bên gửi để bên nhận có thể nhận kịp thời, do bên nhận thông báo). Giao thức TCP cũng tách một thông điệp dài thành các thông điệp ngắn hơn, và cung cấp một cơ chế kiểm soát tắc nghẽn (congestion control), nhờ đó mà bên truyền có thể điều tiết tốc độ truyền mồi khi mạng có ùn tắt.

Giao thức UDP cung cấp các dịch vụ phi kết nối (connectionless). Đây là một giao thức giản lược, không cung cấp các khả năng truyền đảm bảo tin cậy, không điều khiển lưu lượng, không kiếm soát tắc nghẽn. Chúng ta gọi các gói tin ở tầng Vận chuyển là đoạn (segment).

Tầng mạng

Tầng Mạng của Internet chịu trách nhiệm định tuyến cho các gói tin, được gọi là gam dữ diệu (datagram), đi từ đầu gửi đến đầu nhận. Tại đầu gửi, giao thức tầng Vận chuyển (TCP hoặc UDP) gắn kèm địa chỉ đích đến rồi chuyển gói tin đến tầng Mạng. Cũng tương tự như khi bạn gửi thư giấy kèm với địa chỉ người nhận. Sau đó, tại đầu nhận, tầng Mạng sẽ chuyển gam dữ liệu đến tầng Vận chuyển bên trên nó. 

Giao thức IP định nghĩa các trường trong gam dữ liệu, các thiết bị đầu cuối và bộ định tuyến hoạt động dựa trên thông tin của các trường này. Chỉ có duy nhất một giao thức IP, và tất cả các thành phần của Internet có tầng Mạng thì đều phải chạy giao thức IP. Tầng Mạng còn chứa các giao thức định tuyến, để dẫn đường các gói dữ liệu di chuyển từ nguồn đến đích. Internet có nhiều giao thức định tuyến.

Như đã trình bày ở phần trước, Internet là mạng của các mạng, và bên trong một mạng người quản trị mạng có thể cho chạy bất kì một giao thức nào phù hợp. Mặc dù tầng Mạng bao gồm cả giao thức IP và nhiều giao thức mạng, nhưng nó vẫn thường được nhắc đến với tên gọi đơn giản là tầng IP, điều này phản ánh IP là chất keo kết dính các thành phần Internet lại với nhau

Tầng liên kết

Tầng Liên kết có trách nhiệm chuyển các gam dữ liệu (nhận từ tầng Mang) đi qua nút kế tiếp trên tuyến đường đi đến đích cuối cùng. Cụ thể, tại mỗi nút, tầng Mạng đẩy gam dữ liệu xuống tầng Liên kết, tầng này sẽ chuyển giao gam dữ liệu đến nút kế tiếp trên đường đi. Ở tại nút kế tiếp này, tầng Liên kết đẩy gam dữ liệu ngược lên tầng Mạng.

Các dịch vụ được tầng Liên kết cung cấp phụ thuộc vào giao thức cụ thể. Một số giao thức tầng Liên kết cung cấp dịch vụ hỗ trợ truyền dữ liệu đáng tin cậy từ nút truyền, ví dụ như sửa lỗi tự động. Xin lưu ý rằng dịch vụ truyền dữ liệu tin cậy này là hoàn toàn khác với dịch vụ truyền dữ liệu đáng tin cậy của TCP, vốn là giao thức cung cấp dịch vụ chuyển giao dữ liệu đáng tin cậy từ một thiết bị đầu cuối đến một thiết bị đầu cuối khác.

Có thể kể ra vài ví dụ về giao thức ở tầng Liên kết, như Ethernet, WiFi, và Point-to-Point (PPP). Khi đi từ nguồn đến đích, một gam dữ liệu thường đi qua nhiều chặng đường truyền khác nhau, do đó gam dữ liệu có thể được các giao thức khác nhau ở tầng Liên kết xử lý. Chẳng hạn, một gam dữ liệu có thể được Ethernet xử lý ở một đoạn mạng, và được PPP xử lý ở một đoạn mạng khác. Tầng Mạng sẽ nhận một dịch vụ khác nhau từ các giao thức khác nhau ở tầng Liên kết.

Chúng ta gọi gói tin ở tầng Liên kết là khung dữ liệu (frame).

Tầng vật lý

Trong khi công việc ở tầng Liên kết là di chuyển toàn bộ khung dữ liệu từ một nút mạng đến một nút mạng kế tiêp, thì công việc của tầng Vật lý là di chuyển từng bit trong một khung từ một nút đến một nút kế tiếp. Một lần nữa, giao thức ở tầng này phụ thuộc vào đường truyền và còn phụ thuộc hơn nữa vào môi trường truyền dẫn thực sự của đường truyền (chẳng hạn, cáp đồng xoắn cặp, cáp quang).

Ví dụ như Ethernet có nhiều giao thức ở tầng Vật lý: một giao thức cho dây cáp đồng xoắn cặp, một giao thức khác cho cáp đồng trục, một giao thức khác cho cáp quang, … Trong mỗi trường hợp, bit di chuyển trong môi trường truyền dẫn theo cách khác nhau.

Thông điệp, phân đoạn, gam dữ liệu và khung dữ liệu

Hình bên dưới cho thấy con đường vật lý trong đó dữ liệu di chuyển theo hướng xuống tại chồng giao thức bên gửi, sau đó đi lên rồi lại đi xuống ở chồng giao thức của các bộ chuyển và bộ định tuyến trung gian, và cuối cùng là đi ngược lên ở chồng giao thức phía nhận. Như trong các chương sau sẽ đề cập, bộ chuyển và bộ định tuyến đều là các thiết bị chuỵển tiếp gói tin.

mo hinh chong giao thuc don gian
Thiết bị đầu cuối, bộ định tuyến, và bộ chuyển; mỗi thành phần đều có một tập các tầng, phản ánh sự khác biệt về chức năng của chúng.

Tương tự như các thiết bị đầu cuối, bộ chuyển và bộ định tuyến cũng tổ chức các thành phần phần cứng và phần mềm vào thành các tầng. Tuy nhiên bộ định tuyến và bộ chuyển lại không cài đặt tất cả các tầng trong chồng giao thức; chúng chỉ cài đặt các tầng bên dưới. Như ở hình, bộ chuyển cài đặt tầng 1 và 2; còn bộ định tuyến thì lại cài từ tầng 1 đến 3.

Điều này có nghĩa là, bộ định tuyến Internet có khả năng hiểu được giao thức IP (là một giao thức tầng 3), trong khi bộ chuyển thì không. Chúng ta cũng sẽ thấy rằng trong khi các bộ chuyên không hiểu địa chỉ IP, nhưng chúng lại có khả năng hiểu địa chỉ tầng 2, như địa chỉ Ethernet. Chú ý là các thiết bị đầu cuối đều cài đặt hết năm tầng, và điều này là nhất quán với quan điểm cho kiến trúc Internet dồn toàn bộ xử lý phức tạp ra các thành phần biên mạng.

Tổng kết

Chúng ta vừa tìm hiểu xong thế nào là sự phân tầng các giao thức và làm quen với một dạng chồng giao thức Internet điển hình: Mô hình TCP/IP. Trong bài sau chúng ta sẽ tìm hiểu đến một dạng chồng giao thức thứ hai đó chính là Mô hình OSI.

Tags: Mạng máy tínhGiao thứcTCP/IP
Share85Tweet53
Previous Post

[CEH Tiếng Việt] Module 1 – Phần 6: Thông tin tình báo về mối đe doạ, mô hình hoá mối đe doạ

Next Post

[CEH Tiếng Việt] Module 1 – Phần 7: Trí tuệ nhân tạo và học máy trong bảo mật thông tin

Nhà ngoại cảm

Nhà ngoại cảm

Studying Computer Networking and Data Communications 

Related Posts

Đáp án bài tập thực hành CSDL – Quản lý giáo vụ
Các môn học đại học

Đáp án bài tập thực hành CSDL – Quản lý giáo vụ

2 Tháng 9, 2024
Đáp án bài tập thực hành CSDL – Quản lý bán hàng
Các môn học đại học

Đáp án bài tập thực hành CSDL – Quản lý bán hàng

2 Tháng 9, 2024
operating-system-concepts-thumbnails
Các môn học đại học

[Ebook] Sách Operating System Concepts 10th Edition pdf

3 Tháng 9, 2022
Cookies và Web Cache trong HTTP
Các môn học đại học

Cookies và Web Cache trong HTTP

14 Tháng 10, 2024
bai-tap-deadlock
Các môn học đại học

Bài tập Deadlock (Tắc nghẽn) – Bài tập Hệ điều hành

26 Tháng 8, 2022
thuc-hanh-he-dieu-hanh-uit-lab-1
Các môn học đại học

Thực hành Hệ điều hành Lab 1: Hướng dẫn cài đặt Ubuntu và các lệnh cơ bản của Shell

26 Tháng 8, 2022
Next Post
CEH-M1-P7

[CEH Tiếng Việt] Module 1 - Phần 7: Trí tuệ nhân tạo và học máy trong bảo mật thông tin

Để lại một bình luận Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

Tất cả chuyên mục

  • Các môn học đại học
  • CCNA 200-301
  • CEH Tiếng Việt – CEH v13
  • Chưa phân loại
  • Digital Forensics
  • Machine Learning
  • Network
  • Nổi bật
  • Phân tích mã độc
  • Security
  • Tài liệu CNTT
  • Từ vựng IELTS

Thẻ

API AWS Bash Shell C++ Cisco ASA Cisco Packet Tracer Collocations Footprinting Giao thức Machine Learning Mạng máy tính nmap Quản lý rủi ro Regular Expression TCP/IP Tuyển chọn UIT Wireshark

logo sinhviencntt.net

Blog Sinh viên CNTT chia sẻ kiến thức, tài liệu liên quan đến nhóm ngành Công nghệ thông tin.

Chúng tôi sẵn sàng đón những ý kiến đóng góp, cũng như bài viết của các bạn gửi đến SinhVienCNTT.Net.

Giới thiệu

Blog Sinh viên CNTT chia sẻ kiến thức, tài liệu liên quan đến nhóm ngành Công nghệ thông tin.

Liên hệ

Email: sinhviencntt.net@gmail.com

Tìm kiếm

No Result
View All Result

Danh mục

  • Các môn học đại học
  • CCNA 200-301
  • CEH Tiếng Việt – CEH v13
  • Chưa phân loại
  • Digital Forensics
  • Machine Learning
  • Network
  • Nổi bật
  • Phân tích mã độc
  • Security
  • Tài liệu CNTT
  • Từ vựng IELTS
  • Home
  • Liên hệ
  • Privacy & Policy
  • Other Links

© 2023 SinhVienCNTT.Net - Blog Sinh viên Công nghệ thông tin.

Welcome Back!

Login to your account below

Forgotten Password?

Retrieve your password

Please enter your username or email address to reset your password.

Log In
No Result
View All Result
  • Trang chủ
  • Bài viết nổi bật
  • Security
    • Kỹ thuật phân tích mã độc
    • CEH v13
  • Các môn học đại học
    • Các môn đại cương
      • Nhập môn mạng máy tính
      • Nhập môn lập trình
      • Hệ điều hành
    • Ngành An toàn thông tin
      • Lập trình hệ thống
    • Ngành Mạng máy tính & Truyền thông dữ liệu
  • Tài liệu CNTT
  • Liên hệ

© 2023 SinhVienCNTT.Net - Blog Sinh viên Công nghệ thông tin.